Cảm nhận về truyện ngắn Thuốc (Lỗ Tấn) – Văn mẫu lớp 12

Đề bài: Em hãy trình bày cảm nhận về truyện ngắn Thuốc của nhà văn Lỗ Tấn.

Bài làm:

Bạn đang xem bài: Cảm nhận về truyện ngắn Thuốc (Lỗ Tấn) – Văn mẫu lớp 12

Một số bài văn mẫu hay cảm nhận về tác phẩm “Thuốc” của Lỗ Tấn

Bài số 1:

Lỗ Tấn sinh ra và lớn lên tại tỉnh Chiết Giang Trung Quốc, ông là nhà văn có tư tưởng tiến bộ, và xuất sắc trong nền văn học hiện đại, ông là người có tấm lòng yêu nước, và dưới ngòi bút tài hoa, và đầy tinh tế của mình, ông đã sáng tác nên tác phẩm Thuốc, để lại cho người đọc nhiều xúc cảm, vì tình trạng xã hội Trung Quốc thời bấy giờ.

Với tài năng và phẩm chất của mình ông muốn tố cáo tình trạng xã hội Trung Quốc, một xã hội tao loạn, trong đó con người với con người sống với nhau, nhưng họ lại ăn thịt lẫn nhau, đây là một hủ tục khó có thể xóa bỏ, bởi nó đã ăn sâu vào trong trong tiềm thức của con người, với điều đó, con người đang dần phải chịu những nỗi đớn đau, về một hiện thực đó là cách sống, cách nhìn nhận về thế cuộc cũng như trị giá sống của con người trước thế cuộc này.

Trong cả thế cuộc của ông, lúc nào ông cũng đau đáu muốn phanh phui hiện thực của xã hội Trung Quốc, trước tình hình đó, con người đang phải chịu nhiều đớn đau và sự ngu tối trong nhận thức cũng được Lỗ Tấn thể hiện một cách tối ưu và sâu sắc nhất, trong con mắt đó, Lỗ Tấn đã thể hiện được thái độ cũng như ý kiến của mình trước thế cuộc, những trị giá đó được thể hiện mạnh mẽ và nó vô cùng da diết. Hình ảnh chiếc bánh bao tẩm máu người đã là một hình ảnh để tố cáo sự ngu tối của người dân, trong hoàn cảnh ở quán trà, khách trong nhà Lão Hoa, đang bàn về chiếc bánh bao có tầm máu hai người tử tù, những người chết lại bị lấy máu, và họ nghĩ rằng máu người hay thịt người có thể là phương thuốc để chữa trị bệnh cho con người.

Phương thuốc chữa bệnh lao, không phải bằng thuốc thực sự mà nó lại bằng máu người. Đây đúng là một tình trạng thể hiện sự u tối, lạc hậu, và sự nhận thức thấp kém của người dân lúc bấy giờ, con người không nhận thức được đâu là đúng đâu là sai, trong con mắt của tác giả, những người dân này đang lạc loài và đang tăm tối trước hiện thực của cuộc sống, để lột tả được những điều đó, tác giả đã thể hiện tình cảm của mình trước cuộc sống, ông nêu ra hiện thực của xã hội Trung Quốc, một phần có ý nghĩa đó là gợi lại cho con người nhiều xúc cảm, đó là một tình cảnh đặc biệt, trong đó con người đang phải sống trong hoàn cảnh tăm tối từ cuộc sống này.

Với cái nhan đề tác giả đã thể hiện một thái độ chế nhạo trước một hiện thực mà toàn thể dân tộc vẫn đang u mê, trước cuộc sống, họ đang phải chịu đựng những đớn đau về thể xác và ý thức, khi tuần tự mất đi người thân, nhưng họ lại không biết đâu là đúng, đâu là sai, họ đang lầm lỡ và u mê trên tuyến đường nhận thức. Lấy bối cảnh của những nhân vật này để tác giả gợi lại cho người đọc nhiều xúc cảm và trị giá riêng, ở đó con người đang lạc lõng trong cuộc sống, họ phải chịu đựng nhiều tổn thương ý thức, căn bệnh lao mà con nhà lão Hoa Thuyên mắc phải, đó là căn bệnh thật, nhưng gia đình đó lại tin vào máu người có thể chữa khỏi, đây thực sự là sự tăm tối trong nhận thức của con người.

Thứ bánh bao đó không phải là thuốc mà đó là thứ thuốc độc đang dần hủy hoại con người, họ đang phải sống trong sự ngu tối, trước cuộc sống, họ lại tin vào những điều này từ cuộc sống, đó thực sự là một nỗi buồn khi con người đang dần bị những thứ ngu tối, những điều hoang đường che mắt đi, tác giả dưới ngòi bút của mình đã thể hiện một thái độ dứt khoát trước những hoàn cảnh của cuộc sống, ở đó con người đang lạc lõng giữa những bờ vực của sự nhận thức, nhận thức sai và tin vào những điều hoang đường và hư ảo nhất.

Trong tác phẩm những thành kiến trong xã hội vẫn được thể hiện, nó thể hiện một sự nhận thức trong con mắt của chính tác giả về những điều đang diễn ra, với một xã hội như này, con người cần phải thay đổi sự nhận thức, có tương tự con người mới thoát khỏi tình trạng ngu tối và dốt nát từ trị giá này. Tác giả đã nêu ra một hiện từ thực cuộc sống, nó mang một ý nghĩa cho sự phản ánh tình trạng chung và trôi chảy nhất trong thế cuộc, tác giả muốn thể hiện một thái độ đối với chính xã hội của mình.

Trong con mắt của mình, tác giả muốn nêu lên một hiện thực, từ đó thể hiện một thái độ và một tư tưởng sâu sắc, muốn cho người dân có cái nhìn lạ hơn về cuộc sống này, thoát khỏi tình trạng ngu tối đó, con người sẽ được khai thông niềm tin vào chính thế cuộc này.

Hình ảnh mùa xuân khi hai bà mẹ gặp nhau, khi nấm mồ đã xanh tốt cỏ, cũng thể hiện một sự nhận thức mới, qua cái chết của hai người con, tác giả đang muốn thể hiện xúc cảm của mình, mùa thu là mùa của sự ra đi, chiếc lá cũng lìa cành, hình ảnh đó thể hiện sự tiếc thương trong cái nhìn của tác giả về hiện thực của Trung Quốc lúc bấy giờ, con người đang ngu tối về nhận thức, tăm tối và uy mê, trước hiện thực của xã hội lúc bấy giờ, tình trạng ăn thịt người cũng thể hiện được những điều mà tác giả muốn thể hiện trong xã hội, đó là tố cáo tội ác của xã hội đương thời đang dần làm thịt đi niềm tin cũng như một tương lai tươi sáng cho tất cả con người.

Tác phẩm đã để lại cho người đọc nhiều xúc cảm, đó là một thái độ kiên quyết và thể hiện ý kiến của chính tác giả, về một xã hội, u mê, ở đó vẫn còn tình trạng ăn thịt người, và niềm tin của con người vẫn bị lung lay, trước bản ngã của cuộc sống.

Bài số 2​​​​​​​:

Lỗ Tấn (1881 -1936) tên thật là Chu Thụ Nhân, quê ở phủ Thiệu Hưng, tỉnh Chiết Giang, Trung Quốc. Ông là nhà văn cách mệnh thế hệ trước tiên có phương châm và mục đích sáng tác đúng đắn là sử dụng ngòi bút để phanh phui những “căn bệnh ý thức của quốc dân” – một trong những nguyên nhân quan trọng khiến cho xã hội Trung Quốc trở nên trì trệ và suy thoái. Sự nghiệp sáng tác của Lỗ Tấn gồm 3 tập truyện ngắn, 16 tập tạp văn với những đề tài chính trị, xã hội, văn học… Ông xứng đáng là ngọn cờ đầu của văn học Trung Quốc hiện đại. Truyện ngắn Thuốc sáng tác năm 1919 là tác phẩm thể hiện khá rõ những băn khoăn, day dứt của Lỗ Tấn trước những vấn đề quan trọng của xã hội Trung Quốc đương thời. Tác giả phê phán sự lạc hậu, mê muội đáng thương của số đông nhân dân và thái độ xa rời thực tế, xa rời quần chúng của những người khởi xướng và tham gia cuộc cách mệnh Ngũ Tứ lúc bấy giờ. Đồng thời ông cũng gửi gắm trong truyện niềm hy vọng vào tương lai Trung Quốc sẽ có một cuộc cách mệnh triệt để của quần chúng và vì quần chúng. Bối cảnh của truyện là xã hội tăm tối, ngột ngạt dưới ách thống trị của triều đình Mãn Thanh trước khi nổ ra phong trào cách mệnh Ngũ Tứ – sự kiện mở đầu cho lịch sử Trung Quốc hiện đại. Sự xâm chiếm và can thiệp thô bạo của một số đế quốc như Anh, Pháp, Mĩ, Nhật đã biến Trung Quốc thành một nước nửa phong kiến, nửa thuộc địa. Thời vàng son của những triều đại vua chúa đã lui vào quá khứ. Thay vào đó là một xã hội đình trệ, suy thoái mà theo nhận định của Lỗ Tấn: So với tiến bộ thì đình trệ cũng sắp với tuyến đường diệt vong rồi. Nội dung truyện xoay quanh chủ đề Thuốc – một thứ “thuốc” kinh khủng, gớm guốc hiếm có xưa nay. Đó là bánh bao tẩm máu tươi của những kẻ tử tù bị chém đầu, đem nướng lên cho người bệnh ăn. Thiên hạ đồn rằng thứ thuốc ấy chữa khỏi được cả những bệnh thuộc “tứ chứng nan y” như phong, lao, cổ, lại. Vợ chồng lão Hoa chủ quán trà gom góp số tiền tích cóp đã lâu và lão Hoa đích thân tới tận pháp trường để mua “thuốc” cho con trai bị bệnh lao nặng, với hy vọng là nó sẽ khỏi bệnh. Nhưng đau xót thay, máu của tử tù chết chém không chữa được bệnh lao! Thế là tiền mất tật mang, cuối cùng đứa con trai độc đinh của vợ chồng lão Hoa vẫn chết. Ngòi bút của Lỗ Tấn đã đề cập tới một vấn đề đáng lo ngại là tập quán chữa bệnh phản khoa học – một trong những biểu hiện của tình trạng lạc hậu về mặt khoa học ở Trung Quốc, cũng như trong đời sống ý thức của nhân dân mà nhân vật Thuyên chỉ là một trong muôn vàn nạn nhân của tập quán hủ lậu ấy.

Tuy nhiên, Lỗ Tấn còn kín đáo gửi gắm dụng ý của mình trong nghĩa hàm ẩn của truyện. Con bệnh trầm kha không phải là anh chàng Thuyên tội nghiệp mà là đầu óc mê muội của vợ chồng lão Hoa nói riêng và số đông nhân dân nói chung. Theo nhận xét của tác giả thì cả xã hội Trung Quốc thời ấy giống như một người mắc bệnh nặng, đòi hỏi phải có một thứ “thuốc” đặc trị thì mới có thể chữa khỏi; đồng thời ông cũng chỉ ra rằng tuyến đường đi của dân tộc Trung Hoa lúc này đã lâm vào ngõ cụt, cần phải nhanh chóng phát quang một tuyến đường mới. Mở đầu tác phẩm, tác giả tả cảnh lão Hoa chủ quán trà dậy thật sớm, bảo vợ đưa tiền để tới pháp trường mua chiếc bánh bao tẩm máu tử tù về làm thuốc chữa bệnh lao cho đứa con trai duy nhất. Lỗ Tấn có cách kể chuyện xen trình bày rất tự nhiên, sinh động. Nhiều chi tiết nhỏ nhưng lại có tác dụng kết nối, tạo mạch cho câu chuyện tiếp tục theo trình tự thời gian. Chẳng hạn tràng ho không dứt của thằng Thuyên như thúc giục lão Hoa nhanh chóng lên đường lúc trời chưa sáng; hay lòng thương con và niềm hy vọng con sẽ khỏi bệnh khiến cho lão Hoa bước nhanh hơn. Lão Hoa mê muội tin vào thứ thuốc chữa bệnh lao quái dị: bánh bao tẩm máu tử tù nên cố lách vào đám đông hỗn độn đang xô đẩy nhau ào ào để mua cho bằng được thứ mà lão coi như thuốc tiên, có thể cứu mạng đứa con trai của mình. Thứ “thuốc” đáng sợ và hiếm có ấy được rao bán như bán những món hàng thông thường khác. Ngòi bút tả thực sắc sảo của Lỗ Tấn khiến người đọc cảm thấy như cảnh tượng hãi hùng ấy đang diễn ra trước mắt. Có một chi tiết mang ý nghĩa ẩn dụ là không phải chỉ một mình lão Hoa vội vàng đi mua bánh bao tẩm máu tử tù để chữa bệnh mà rất nhiều người khác cũng có ý định như lão. Qua chi tiết này, Lỗ Tấn muốn nói tới thực trạng đáng lo ngại: số đông nhân dân Trung Quốc đương thời vẫn tin vào những điều nhảm nhí không có cơ sở khoa học, bởi thói mê tín dị đoan đã tiêm nhiễm vào đầu óc họ, trở thành một căn bệnh ý thức khó chữa. Niềm hoan hỉ, tin tưởng và hy vọng của lão Hoa mỗi lúc một dâng cao. Về tới nhà, lão cùng với vợ vội vàng chế biến “thuốc cải tử hoàn sinh” rồi cho con trai ăn chiếc bánh bao tẩm máu tử tù nướng đen thui. Thuyên cầm chiếc bánh lên nhìn, có cảm giác rất lạ không biết thế nào mà nói, như đang cầm tính mệnh của chính mình trong tay. Y bẻ đôi ra, rất thận trọng… Không bao lâu, chiếc bánh đã nằm gọn trong bụng… Lão Hoa đứng một bên, bà Hoa đứng một bên, trố mắt nhìn con như muốn rót vào người con một cái gì, đồng thời cũng muốn lấy ra một cái gì. Tác giả đã thể hiện tài tình diễn biến tâm trạng của từng nhân vật trong đoạn văn này. Cha mẹ Thuyên nhìn con ăn chiếc bánh bao mà lòng khấp khởi hy vọng, tin rằng con sẽ nhanh chóng khỏi bệnh. Họ muốn rót vào người con sự sống, đồng thời cũng muốn lấy ra căn bệnh lao đáng sợ mà người đời đã liệt vào hàng “tứ chứng nan y”, người nào mắc phải là cầm chắc cái chết. Vợ chồng lão Hoa là những nhân vật vừa đáng thương vì tình phụ tử, mẫu tử của họ thật cảm động, nhưng lại vừa đáng giận bởi họ mê tín tới ngu tối.

Hình ảnh đám đông trong quán trà của lão Hoa cũng phản ánh rất trung thực về “căn bệnh ý thức” của người Trung Quốc. Quán trà lão Hoa là nơi tụ họp thường xuyên của khách bình dân. Tại đây, lượng thông tin không những rất phong phú mà còn rất thật. Khách uống trà gồm một người râu hoa râm, cậu Năm Gù, bác bỏ cả Khang, một anh chàng hơn hai mươi tuổi… và một số người khác. Họ là những người thuộc số đông nhân dân Trung Quốc lúc bấy giờ. Quán trà của lão Hoa giống như xã hội Trung Quốc thu nhỏ. Đám khách uống trà bàn tán xoay quanh hai sự kiện sốt dẻo: Thứ nhất là chuyện lão Hoa mua được “thần dược”; thứ hai là chuyện Hạ Du bị chết chém. “Thuốc tiên” để trị “bệnh quỷ” mà người Trung Quốc vẫn tôn sùng lúc bấy giờ chính là bánh bao tẩm máu tử tù. Bánh bao thì luôn luôn có sẵn, nhưng còn máu tử tù ? Máu tử tù không sẵn nhưng cũng không phải là hiếm, chỉ cần có tiền là mua được, nhất là vào đúng dịp có tử tù bị chém. Lão Hoa có con mắc bệnh lao nặng, may mắn gặp ngay dịp Hạ Du bị chém đầu. Cho nên hôm ấy ở quán trà nhà lão Hoa, người ta chỉ bàn tới hai chuyện ấy cũng là điều dễ hiểu. Vấn đề quan trọng ở đây là thái độ của họ trước hai sự kiện này ra sao? Về sự kiện thứ nhất, mọi người đều mừng cho lão Hoa đã may mắn mua được “thần dược” và họ đặt niềm tin tuyệt đối vào phương thuốc kì quái ấy. Chỉ trong một đoạn văn ngắn mà có tới sáu lần nhắc lại câu: đoan thế nào cũng khỏi, giống lời khẳng định chắc chắn như đinh đóng cột. Về sự kiện thứ hai, mọi người đều tỏ thái độ khinh bỉ, dè bỉu và sử dụng những lời lẽ xấu xa nhất để gọi Hạ Du: tên tội phạm, thằng quỷ sứ, thằng nhãi con, thằng khốn nạn… Họ coi anh là giặc, là dám vuốt râu cọp, là điên. Họ nghĩ rằng anh bị chém đầu là đích đáng. Họ hỉ hả như chính mình vừa trừ khử được một kẻ tội đồ. Khi nghe kể tới đoạn Hạ Du bị lão Nghĩa quản ngục đánh cho hai cái bạt tai vì dám rủ lão “làm giặc” thì họ thú quá, cứ nhao nhao nói nói cười cười. Trong lúc đó, họ lại xuýt xoa khen cụ Ba đã sáng suốt đem nộp cháu mình cho nhà chức trách, vừa không bị mất đầu vì chứa chấp một tên phản nghịch, vừa được thưởng hai mươi lạng bạc. Qua cuộc bàn luận của đám đông ở quán trà, Lỗ Tấn khéo léo phơi bày thực trạng ý thức u mê tăm tối của phần lớn nhân dân Trung Quốc thời đó. cách mệnh Tân Hợi là một cuộc cách mệnh không triệt để. Người dân chưa được tuyên truyền, giác ngộ nên họ coi những người làm cách mệnh là “làm giặc”. Họ càng không hiểu gì về mục đích cao cả của cách mệnh. Lỗ Tấn nhận thức rất rõ “căn bệnh ý thức” của người Trung Hoa đã tới mức trầm trọng. Đã tới lúc phải nguy cấp tìm ra một phương thuốc “đặc hiệu” để chữa trị căn bệnh ấy. Nhưng đó là phương thuốc nào? Lúc này, cách mệnh Trung Quốc đang lò dò tìm đường, Lỗ Tấn cũng đang tìm đường. Ông chưa thể đưa ra một giải pháp chuẩn xác, nhưng ông đã dự cảm được một điều gì đó. Dự cảm ấy phần nào được thể hiện qua hình tượng nhân vật Hạ Du.

Hạ Du tuy không được tác giả trình bày trực tiếp nhưng nhân vật này đóng vai trò quan trọng là mắt xích liên kết toàn bộ câu chuyện và chi phối những sự kiện trong tác phẩm. Hạ Du là một đội viên cách mệnh có ý chí kiên cường, dám chấp nhận thử thách, hi sinh. tới phút chót anh vẫn tuyên truyền cách mệnh. Hạ Du bộc lộ nỗi đau xót trước tình trạng mê muội của nhân dân. Nhưng thật đáng buồn là ý chí, mục đích và hành động của anh lại bị mọi người hiểu một cách sai lạc. Cụ Ba là người thân nghĩ rằng anh “làm giặc” nên đã tố giác anh để lấy tiền thưởng. nhân dân thì chờ anh bị chém đầu để lấy máu anh tẩm vào bánh bao làm thuốc chữa bệnh. Với những tên đao phủ tàn bạo, tham lam thì máu Hạ Du là một món hàng đem lại lợi nhuận béo bở. Với đám đông nhân dân, Hạ Du là đối tượng để cho họ chế nhạo và khinh bỉ. Thậm chí tới cả mẹ anh cũng không hiểu đúng về con trai mình. Xây dựng nhân vật Hạ Du, tác giả vừa giãi bày thái độ trân trọng và kính phục, vừa ngầm phê phán những người làm cuộc cách mệnh Ngũ Tứ xa rời và chưa giác ngộ được quần chúng. Thật xót xa và đớn đau trước hình ảnh người đội viên cách mệnh không hoà hợp được với quần chúng và còn bị nhân dân nhìn bằng con mắt miệt thị và giễu cợt. Chính vì vậy mà sự hi sinh của họ trở nên vô nghĩa. Trong phần cuối của truyện, quang cảnh nghĩa trang được Lỗ Tấn trình bày rất kĩ: Miếng đất dọc thực bụng phía ngoài cửa Tây vốn là đất công. Ở giữa là tuyến đường mòn nhỏ hẹp, cong queo, do những người hay đi tắt giẫm mãi thành đường. Đó cũng là cái ranh giới tự nhiên giữa nghĩa trang những người chết chém hoặc chết tù, ở về phía tay trái, và nghĩa trang những người nghèo, ở về phía tay phải. Cả hai nơi, mộ dày khít, lớp này lớp khác, như bánh bao nhà giàu ngày mừng thọ. Hình ảnh tuyến đường mòn ở đây không chỉ đơn thuần là một ranh giới tự nhiên mà nó còn là ranh giới vô hình của lòng người, của những thành kiến xã hội. Cảnh nghĩa trang trong đoạn văn mang nhiều ý nghĩa. Thứ nhất: Dư luận xã hội không hề có sự phân biệt giữa những người làm cách mệnh hi sinh vì quốc gia với những kẻ tội đồ. tương tự thì những đội viên cách mệnh cũng bị coi là “giặc”. Thứ hai: số người bị chết chém hoặc chết tù cũng nhiều như số người bị chết vì nghèo đói. Hình ảnh những ngôi mộ ở nghĩa trang nhiều như bánh bao nhà giàu ngày mừng thọ là một hình ảnh so sánh mỉa mai, gợi lên thực trạng xã hội phong kiến Trung Hoa vừa đen tối vừa tàn bạo thời ấy. Lỗ Tấn còn gửi gắm một hàm ý khác nữa trong hình ảnh tuyến đường mòn chia đôi nghĩa trang: ranh giơi giữa người nghèo và người cách mệnh rất sắp. những người làm cách mệnh là người nào nếu như không phải là tầng lớp nghèo khổ bị áp  bức, bóc lột tới cùng cực, không còn tuyến đường nào khác là phải tự vùng lên để phóng thích thế cuộc mình?

nếu như như lúc còn sống họ chưa thật sự hiểu nhau, gắn bó với nhau thì lúc chết, nghĩa trang này là nơi họ được ở sắp nhau. Hai bà mẹ cùng ra thăm mộ con trong tiết Thanh minh. Đó là bà Hoa, mẹ của Thuyên và bà mẹ của Hạ Du – tử tù chết chém. Bà Hoa đặt lễ vật trước mộ con, khấn vái rồi khóc lóc một hồi. Bà kia cũng làm tương tự trước mộ con mình, chỉ khác là mộ của Thuyên ở bên phải đường mòn, còn ngôi mộ kia thì nằm bên trái đường mòn, sắp như đối diện nhau. Tình huống này đã tác động vô cùng mạnh tới suy nghĩ và xúc cảm của người đọc. Cả những người đã chết và những người đang sống đều là nạn nhân khổ cực, đáng thương của xã hội phong kiến Trung Quốc hủ bại, bế tắc đương thời. thắc mắc đầy ngạc nhiên và băn khoăn của bà mẹ Hạ Du: Thế này là thế nào ? khi nhìn thấy trên nấm mồ con trai mình có những cánh hoa trắng hoa hồng… không nhiều lắm, xếp thành vòng tròn tròn, không lấy gì làm đẹp, những cũng chỉnh tề lặp lại hai lần gợi nhiều day dứt. thắc mắc ấy thể hiện thái độ khó hiểu của bà mẹ trước hành động tham gia cách mệnh và cái chết bi thảm của con trai mình; đồng thời chất chứa xúc cảm đau xót, khổ cực và tự trách. Đó không chỉ là thắc mắc dành riêng cho bà mẹ Hạ Du mà còn dành cho tất cả mọi người. người nào đã tới đây ? Chắc chắn đó là đồng chí của Hạ Du, hoặc là người có thiện cảm với cách mệnh. Họ đã bất chấp luật lệ nghiệt ngã của chính quyền, vẫn can đảm giãi bày tình cảm của mình đối với cách mệnh. Họ dám tới viếng mộ anh và còn kính cẩn đặt lên đó một vòng hoa tươi: …hoa trắng hoa hồng xen lẫn nhau, nằm khoanh trên nấm mộ khum khum. Một trong số những người không sợ liên luỵ chính là Lỗ Tấn. Nhà văn đã giãi bày thái độ kính trọng đối với những đội viên của phong trào cách mệnh Ngũ Tứ. Ông đã đặt vòng hoa tưởng vọng trên mộ Hạ Du. Đó cũng là cách ông nêu ra vấn đề cấp thiết là phải có một phương thuốc đặc trị để cứu chữa “căn bệnh ý thức” của người Trung Quốc. Phương thuốc đó quyết không phải là cái gì khác ngoài tuyến đường cách mệnh, nhưng không nửa vời như cuộc cách mệnh Tân Hợi mà là cuộc cách mệnh triệt để của quần chúng và vì quần chúng. Hình ảnh vòng hoa trên mộ Hạ Du còn chứng tỏ nhà văn Lỗ Tấn vẫn ấp ủ hy vọng vào ngày mai tươi sáng, cho dù những người tham gia phong trào cách mệnh Ngũ Tứ đang bị chính quyền ráo riết khủng bố và bản thân tác giả cũng đang ở tâm trạng đớn đau, sững sờ. Nó làm cho cái chết của Hạ Du bớt phần bi thảm bởi vì dù sao thì cũng có người xúc động và hiểu được phần nào ý nghĩa cái chết của anh. Đó cũng là niềm yên ủi cho những dũng sĩ đang bôn ba trong chốn quạnh hiu. (Cách gọi của Lỗ Tấn đối với những người tham gia phong trào cách mệnh Ngũ Tứ). Câu chuyện về Thuốc được trình bày ở hai thời khắc là mùa thu và mùa xuân. Hạ Du và Thuyên chết vào mùa thu, đồng nghĩa với sự tàn lụi. Hai cái chết của hai người trẻ trai có số phận khác nhau và cách họ chết cũng không giống nhau. Thế nhưng, tới mùa xuân, hai bà mẹ có chung nỗi đau mất con nhịn nhường như đã đồng cảm với nhau. Đặt câu chuyện vào thời khắc của hai mùa: một mùa có tính chất tàn tạ, một mùa có tính chất hồi sinh, tác giả nhịn nhường như muốn gửi gắm vào đó niềm hy vọng về sự thay đổi thế tất. Dù không có những biểu hiện thật rõ ràng, song với cách kết cấu và thời gian nghệ thuật đầy ý nghĩa tượng trưng, tác giả đã gieo vào lòng người đọc một niềm tin, một niềm hy vọng về tương lai tươi sáng của dân tộc mình. Truyện ngắn Thuốc tiêu biểu cho văn pháp hiện thực tỉnh táo, khách quan của Lỗ Tấn. Cốt truyện dung dị nhưng độc đáo ở khả năng lựa lựa chọn những tình tiết, ở cách sắp xếp thời gian nghệ thuật và đặc biệt là ở khả năng tạo ra tính đa nghĩa của ngôn từ và hình tượng. Câu chuyện có chung một âm điệu trầm buồn thể hiện sự suy tư, lo lắng, day dứt đầy ý thức trách nhiệm của Lỗ Tấn trước số phận và tương lai của dân tộc mình. Có thể coi tác phẩm này giống như con dao mổ sắc bén trong tay một bác bỏ sĩ tài tình, mạnh dạn cắt bỏ những khối u ác tính về ý thức của xã hội đương thời để cứu lấy dân tộc Trung Hoa. Nhà văn Lỗ Tấn xứng đáng là cây đại thụ của văn học Trung Quốc và Danh nhân văn hoá toàn cầu.

Sưu tầm có lựa chọn lọc những bài văn mẫu hay Trình bày cảm nhận của anh chị về truyện ngắn Thuốc của nhà văn Lỗ Tấn.

Bản quyền bài viết thuộc THPTSocTrang.Edu.Vn. Mọi hành vi sao chép đều là gian lận!

Nguồn chia sẻ: cmm.edu.vn

Trích nguồn: Cao đẳng Tài nguyên và Môi trường miền Trung
Danh mục: Giáo dục

Related Posts